Nhận diện “Đại học đẳng cấp quốc tế” ở Việt Nam

“Theo quan điểm của GS, TSKH Đào Trọng Thi, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, việc thành lập “đại học đẳng cấp quốc tế” là một nhu cầu thực sự của Việt Nam nhưng cần phải được nghiên cứu thật kỹ và thận trọng, cách đi, hướng đầu tư đã đúng chưa? Số đông những người làm trong ngành Giáo dục băn khoăn là hướng xây mới một trường “đẳng cấp quốc tế” chưa chắc đã phù hợp với điều kiện của chúng ta.

Báo CAND đã có bài viết: “Bao giờ Việt Nam có trường đại học nằm trong tốp 200?” phản ánh những băn khoăn, nghi ngại của một số nhà khoa học, nhà giáo cho rằng, chúng ta khó có thể kỳ vọng vào một trường đại học quốc tế khi mà mặt bằng chung giáo dục đại học của đất nước còn rất thấp (chỉ có 10%/tổng số giảng viên có trình độ tiến sỹ, trong đó non nửa giảng viên có trình độ đã về hưu; có hơn 1.000 PGS.GS, sinh viên học hành trong điều kiện chật chội, có trường chưa đạt 1m2/SV…). Để giúp bạn đọc nhận diện được “đại học đẳng cấp quốc tế” đang diễn biến ra sao, Báo CAND xin trở lại vấn đề này.

“Đại học đẳng cấp quốc tế” – đòn bẩy của kinh tế tri thức!

Theo đề án, Việt Nam sẽ xây 4 trường đại học đẳng cấp quốc tế gồm: ĐH Việt – Đức (VGU) ở TP HCM, ĐH Khoa học và Công nghệ ở Hà Nội, và sẽ có 2 trường nữa được xây dựng ở Đà Nẵng và Cần Thơ. Số tiền dành cho 4 trường này là khoảng 400 triệu USD, vay từ Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB). 4 trường đại học này sẽ được xây dựng theo mô hình ĐH công lập, phi lợi nhuận, chất lượng cao tiến tới trình độ quốc tế vào năm 2020 và 1 trong 4 trường này sẽ lọt vào top 200 trường ĐH hàng đầu thế giới. Riêng Trường ĐH Việt – Đức đã “ngốn” hết 180,4 triệu USD.

Khi dư luận bắt đầu biết đến đề án “đại học đẳng cấp quốc tế”, ngay lập tức đã xuất hiện nhiều quan điểm, trong đó có quan điểm cho rằng, không nên xây mới từ đầu một trường đại học “đẳng cấp”, sẽ mất quá nhiều thời gian để gây dựng, đó là chưa nói đến nhiều mục tiêu khó khả thi trong điều kiện giáo dục Việt Nam. Chi bằng, chúng ta hãy đầu tư thẳng vào những trường đại học trọng điểm, sẽ nhanh hơn nhiều.

Nhưng quan điểm của Bộ GD&ĐT cho rằng, truyền thống và bề dày lịch sử của nhà trường có vai trò rất quan trọng, nhưng không có tính chất quyết định, mà yếu tố quyết định là đội ngũ cán bộ giảng viên. Một quan chức của Bộ GD&ĐT còn đưa dẫn chứng về Trường ĐH Khoa học và Công nghệ Hồng Kông, một trường sinh sau đẻ muộn, nhưng 15 năm nay đã có 6.000 sinh viên với diện tích khoảng 60ha, chứng tỏ quyết định xây mới và bước đi của trường của chính quyền Hồng Kông là chuẩn xác.

Những nhà xây dựng đề án “đại học đẳng cấp quốc tế” của Việt Nam còn kỳ vọng, đây sẽ là những trường đại học đa ngành, đại học nghiên cứu, biết tập trung trọng điểm. “Đại học đẳng cấp quốc tế” là một nhu cầu xuất phát từ sự cạnh tranh khốc liệt về giáo dục đại học trong và ngoài nước, đồng thời đây sẽ là đòn bẩy nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu, tập trung cho sự phát triển của nền kinh tế tri thức.

“Đại học đẳng cấp quốc tế”: học phí thấp, cấp bằng ngoại

Mục tiêu của ĐH Việt – Đức phấn đấu trở thành một trong những trường đại học hàng đầu tại Việt Nam, tạo cơ hội cho các sinh viên Việt Nam có trình độ được tiếp cận với môi trường đào tạo tiêu chuẩn quốc tế với mức học phí phải chăng. Trong giai đoạn đầu thành lập, tất cả các chương trình đào tạo tại ĐH Việt – Đức được các trường đại học đối tác tại Đức thiết kế và triển khai ở Việt Nam, chủ yếu do các giáo sư Đức phụ trách giảng dạy. Sinh viên sau khi tốt nghiệp sẽ được trường đại học đối tác tại Đức cấp bằng. Ngôn ngữ giảng dạy và học tập tại ĐH Việt – Đức là tiếng Anh, nhưng trong quá trình học tại trường, sinh viên cũng được học tiếng Đức song song. Qua đây, bước gia nhập lý tưởng vào môi trường làm việc Đức và quốc tế có thể được tạo lập ở Việt Nam.

Ngoài ra, ĐH Việt – Đức cũng chính là cánh cửa mở sang làng đại học Đức, bởi lẽ các sinh viên của ĐH Việt – Đức sẽ có cơ hội học một kỳ hoặc tiếp tục theo học ở bậc cao hơn tại một trường đại học ở Đức. Hiện tại, ĐH Việt – Đức đang triển khai bốn chương trình đào tạo bậc cao học và một chương trình đào tạo bậc đại học. Những chương trình khác sẽ được triển khai trong tương lai gần.

Còn ĐH Khoa học và Công nghệ Hà Nội, mô hình đại học tân tiến do Pháp và Việt Nam hợp tác, đưa ra 10 lý do để học tại đây, phấn đấu đến năm 2020 sẽ tiếp nhận 8.000 sinh viên. Đây cũng là một trường đại học theo chuẩn quốc tế đáp ứng nhu cầu phát triển của Việt Nam (triển vọng năm 2030 sẽ được xếp vào loại các trường đại học tốt nhất thế giới). Đây cũng là một trường đại học gắn liền với nghiên cứu khoa học và kết nối với hệ thống công nghiệp tiên tiến của Việt Nam. Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội sẽ cấp bằng trên cơ sở quy chuẩn của thỏa thuận Bologne được sử dụng trong tất cả các trường đại học của châu Âu: Cử nhân (Bachelor) (3 năm), Thạc sĩ (5 năm), Tiến sĩ (PhD) (8 năm). Hệ thống này tạo điều kiện mạnh mẽ cho sinh viên có thể tiếp tục học tập ở tất cả các nước.

Học phí của ĐH Việt – Đức là 1.500 USD/năm và của Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội là 750 USD/năm (mức học phí này, theo nhà trường là thấp đối với một trường đại học cấp bằng quốc tế có giá trị tại Pháp và Việt Nam).

ĐH Việt – Đức trao học bổng cho những sinh viên xuất sắc.

“Đại học đẳng cấp quốc tế” -đầu vào “èo uột”

Những người xây dựng đề án luôn kỳ vọng vào quy mô tuyển sinh sẽ ngày càng hoành tráng của ĐH Việt – Đức và ngay trong năm đầu tiên (năm học 2008 – 2009), Bộ cho trường 80 chỉ tiêu, đào tạo 2 ngành bậc ĐH là kỹ thuật điện và công nghệ thông tin. Nhìn điều kiện xét tuyển của ĐH Việt – Đức cũng na ná như vô vàn các trường đại học khác: đó là những thí sinh dự thi khối A theo đề chung của Bộ GD&ĐT, đạt 21 điểm trở lên, thí sinh phải có chứng chỉ môn tiếng Anh (chứng chỉ TOEFL, IELTS, chứng chỉ B, C). Nhưng đến tháng 9/2008, trường chính thức khai giảng khóa đầu tiên chỉ với 32 sinh viên. Đến năm thứ hai, chỉ tiêu của trường giảm xuống còn 50 chỉ tiêu, mức điểm xét tuyển chỉ còn 17 điểm và trường đưa ra khá nhiều lời mời hấp dẫn như: học phí phải chăng và chính sách học bổng ưu đãi dựa trên thành tích học tập, giảm 50% học phí cho năm học đại cương… Nhưng cuối cùng, chỉ có 28 sinh viên nhập học.

Năm 2010, ĐH Việt – Đức thực hiện hình thức tuyển sinh mới với 60 chỉ tiêu. Thí sinh chỉ cần nộp điểm tổng kết 6 môn (Toán, Lý, Hóa, Sinh, tiếng Anh và Văn) của 3 năm cuối cấp THPT và đậu kỳ thi tú tài là được dự tuyển. Bên cạnh đó, trường tiếp tục tuyển những thí sinh có điểm thi ĐH khối A từ 21 trở lên. Kết quả, kỳ tuyển sinh năm 2010 trường cũng chỉ tuyển được 39 sinh viên trong 60 chỉ tiêu, trong đó số sinh viên đạt từ 21 điểm trở lên không nhiều.

Ngày 7/10/2010, ĐH Khoa học và Công nghệ Hà Nội chính thức khai giảng khóa đầu tiên. Để tạo cơ hội cho trường, Bộ GD&ĐT đã có công văn cho phép trường được tuyển sinh với một cơ chế riêng. Trước ngày khai giảng, trường ra thông báo tuyển sinh 40 chỉ tiêu cho 2 ngành Công nghệ sinh học – dược học và Khoa học vật liệu – công nghệ nano, đối tượng tuyển sinh là thí sinh dự thi ĐH khối A, B, D với mức điểm từ 19 điểm lên. Đến ngày 25/9, hạn cuối cùng nộp hồ sơ, trường vẫn chưa tuyển đủ chỉ tiêu. Để tăng đầu vào, trường đã quyết định hạ mức điểm tuyển xuống chỉ còn 15 và thông báo xét tuyển nguyện vọng 3. Nhưng qua sơ tuyển chỉ có hơn 30 sinh viên đủ điều kiện nhập học, trong đó chỉ có 6 em là từ trường khác chuyển sang, còn lại là những em thi đại học nhưng chưa trúng tuyển trường nào. Chỉ có 1 sinh viên đạt 22,5 điểm và cũng là thí sinh có điểm thi cao nhất.

Theo Bộ GD&ĐT, “đại học đẳng cấp quốc tế” phải tuyển chọn khắt khe, đảm bảo đầu vào là những sinh viên xuất sắc nhất. Cũng có ý kiến cho rằng, nên tuyển các thủ khoa, hoặc những thí sinh đoạt 30/30 điểm thi đại học. Nhưng nhìn vào số lượng sinh viên trúng tuyển “èo uột”, lại ngẫm mục tiêu đạt 8.000 sinh viên vào năm 2020 của ĐH Khoa học và Công nghệ Hà Nội và 5.000 sinh viên của ĐH Việt – Đức mới thấy mục tiêu đó còn rất xa vời. Nhìn vào thực trạng đó, một đại diện của ĐH Việt – Đức cho hay, có thể trường sẽ lùi lại đến năm 2022 mới đạt được quy mô 5.000 sinh viên. Còn ĐH Khoa học và Công nghệ Hà Nội cũng phải lùi mục tiêu trở thành trường đại học hàng đầu thế giới vào năm 2030 chứ không phải vào năm 2020 như đã từng tuyên bố.

Thận trọng từng bước đi

Trao đổi với PV Báo CAND, GS.TSKH Đào Trọng Thi, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội cho biết: “Việc thành lập “đại học đẳng cấp quốc tế” là một chủ trương lớn của Chính phủ. Thời gian vừa rồi, Quốc hội đã cử đoàn giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật về thành lập trường, đầu tư và bảo đảm chất lượng đào tạo với giáo dục ĐH, và yêu cầu Chính phủ báo cáo Quốc hội chủ trương, định hướng, cũng như vấn đề đầu tư và hiệu quả hoạt động của các trường “đại học đẳng cấp quốc tế”. Theo tôi, việc thành lập “đại học đẳng cấp quốc tế” là một nhu cầu thực sự của Việt Nam nhưng cần phải được nghiên cứu thật kỹ và thận trọng, cách đi, hướng đầu tư đã đúng chưa? Số đông những người làm trong ngành Giáo dục băn khoăn là hướng xây mới một trường “đẳng cấp quốc tế” chưa chắc đã phù hợp với điều kiện của chúng ta. Việt Nam có nhiều trường đại học có bề dày lịch sử, được đầu tư lớn, sao không đầu tư tiếp tục vào những trường đó ở mức cao hơn? Cần phải xem xét cả cách thức liên kết với nước ngoài của những trường này. Tôi được biết, quy mô đào tạo của những trường “đẳng cấp quốc tế” rất nhỏ bé, chưa thu hút được sinh viên, đầu vào thấp trong khi học phí rất cao dù đã được Nhà nước hỗ trợ khá nhiều. Vậy có phải là trường dành cho con em nhà giàu và sự hỗ trợ của Nhà nước lại rơi vào con em nhà giàu. Khởi động bước đầu như vậy có thể nói là chưa tốt. Sau khi có báo cáo của Chính phủ, Quốc hội sẽ xem xét lại vấn đề này”.

Có lẽ đã đến lúc cần một thái độ cầu thị, thận trọng trong từng bước đi trong xây dựng “Đại học đẳng cấp quốc tế”. Vấn đề là chất lượng cả đầu vào, lẫn đầu ra để đáp ứng nhu cầu nguồn lực có trình độ cao cho đất nước thời công nghiệp hóa. Mọi sự đơn giản, èo uột sẽ dễ đưa đến những thất bại cay đắng.

Giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Phó Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử quốc gia:

Có hai cách xếp hạng cơ bản, thứ nhất là của ĐH Giao thông Thượng Hải (Trung Quốc) đã xếp hạng 500 trường ĐH “top” trên thế giới qua các thành tích nghiên cứu khoa học (NCKH) tầm quốc tế như giải Nobel và Fields, số nhà khoa học được trích dẫn thường xuyên nhất, số bài báo quốc tế và số lần được trích dẫn dựa trên cơ sở dữ liệu của Viện Thông tin Khoa học ISI (Philadelphia). Cách xếp hạng thứ 2 theo Times Higher Education ở Anh dựa trên kết quả thăm dò hàng nghìn học giả thuộc nhiều nước cùng với ba tiêu chí khác là tỷ số giảng viên/sinh viên, mức độ toàn cầu hóa căn cứ trên phần trăm số giảng viên và sinh viên nước ngoài và số lần trích dẫn các bài báo quốc tế. Tuy hai cách xếp hạng khác nhau nhưng tựu trung lại, trường ĐH đẳng cấp quốc tế trước hết phải có NCKH ở trình độ quốc tế. Các công trình khoa học phải công bố ở các tạp chí quốc tế có uy tín, được nhiều người trích dẫn, đây là tiêu chí rất quan trọng. Hoặc nghiên cứu ra được nhiều sản phẩm hay, hiệu quả lớn, mà không có bài báo quốc tế hoặc bằng phát minh, thì thế giới cũng không công nhận.

Share This Post

Related Articles

© 2013 . All rights reserved. Site Admin · Entries RSS · Comments RSS
Powered by WordPress · Designed by Theme Junkie