Thừa thầy, thiếu thợ

(LĐ) – Tiếng kêu “thừa thầy thiếu thợ” thường được dùng để chỉ trạng thái người tốt nghiệp đại học không kiếm được việc làm do đào tạo không sát thực tế, trong khi lại thiếu người lao động có tay nghề.

Tài nguyên lớn nhất của Việt Nam hiện nay và nhất là trong tương lai, là con người. Việc người Việt Nam được đào tạo, có kỹ năng cần thiết, có kỷ luật và sáng tạo trong công việc của mình là vấn đề cốt lõi của sự phát triển đất nước.

Rất đáng tiếc, bất chấp các chủ trương khá rầm rộ, từ chương trình “đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ (tháng 11/2009) với kinh phí khoảng 26 ngàn tỉ đồng, đến đề án đào tạo nghề 16 ngàn tỉ đồng (1 tỉ USD theo tỉ giá khi đó) của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Việt Nam, nhưng trình độ tay nghề của lao động Việt Nam vẫn rất thấp.

Theo báo cáo được trình bày tại hội thảo nhằm nâng cao chất lượng các doanh nghiệp tư nhân tại Viện Quản lý kinh tế Trung ương, ngày 12.10.2010, chỉ 12,7% số lao động làm việc trong các doanh nghiệp có trình độ; 75% số lao động trong các doanh nghiệp tư nhân chưa qua đào tạo; năm 2009 theo khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, 47,4% doanh nghiệp gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động có kỹ năng (năm 2008, chỉ có 38,4% gặp khó khăn này); năng suất lao động bình quân của Việt Nam thấp; tốc độ tăng năng suất lao động ngày càng giảm (2008: 3,21%, năm 2009: 2,89%),…

Có rất nhiều nguyên nhân của tình trạng này, song theo tôi một trong những nguyên nhân chính là ở chính sách đào tạo nghề của Nhà nước, mà cụ thể là ở cách quản lý của Nhà nước, nhất là khâu “chương trình khung” do các bộ đưa ra.

Giáo dục phổ thông (cho đến lớp 9) là trách nhiệm chính của Nhà nước, trong khi về dạy nghề (một phần của trung học phổ thông, đào tạo nghề, cao đẳng và đại học) Nhà nước tuy có vai trò quan trọng song chính các cơ sở đào tạo và xã hội mới quyết định. Trong khu vực “dạy nghề” này, các cơ sở đào tạo phải thực sự cạnh tranh nhau vì học sinh và sinh viên, phải được tự chủ hoàn toàn về chương trình đào tạo sao cho đáp ứng được nhu cầu biến động rất nhanh của nền kinh tế. Và để làm được việc đó, một cản trở lớn cần dỡ bỏ là “chương trình khung”.

Luật Dạy nghề (2006) nhắc tới chương trình khung 11 lần. Từ đào tạo trung cấp trở lên chương trình khung là do các Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định. Tuy có để cho hiệu trưởng các cơ sở đào tạo “sự sổng sểnh” trong việc soạn chương trình đào tạo trung cấp (cao đẳng) nghề. Thế nhưng, thực tế cho thấy chương trình khung vẫn quy định quá nhiều. Và đấy là một trong những nguyên nhân chính của tình hình yếu kém hiện nay.

Ngoài ra còn có một phong trào “nâng cấp” khá rầm rộ. Trường sơ cấp kỹ thuật “nâng cấp” lên trung cấp, rồi lên “cao đẳng” rồi lên “đại học”. Có thể thấy rất nhiều thí dụ như vậy.

Các cơ sở dạy nghề, đào tạo nghề tư nhân chưa thực sự phát triển, sự hợp tác với các nước có nhiều kinh nghiệm về dạy nghề (như Đức chẳng hạn) chưa được chú trọng, mà phong trào chỉ chú ý đến “đại học”, đôi khi chỉ ở trình độ dạy nghề hay cao đẳng).

Chỉ có các doanh nghiệp, các tổ chức, tức là người sử dụng đầu ra của các cơ sở đào tạo nghề (kể cả đại học), mới là người có tiếng nói cuối cùng để đánh giá “chất lượng” đào tạo của các cơ sở này. Chính vì thế Nhà nước nên tạo điều kiện để cho các doanh nghiệp, các tổ chức sử dụng lao động, cơ sở đào tạo tương tác với nhau và Nhà nước nhất quyết không nên can thiệp hay làm thay những việc của họ. Và việc bãi bỏ các quy định về chương trình khung là một bước dễ làm và hết sức quan trọng. Dễ làm vì chỉ cần thay mấy câu, mấy chữ, nhưng rất khó vì thay đổi tư duy cũ kỹ không dễ; nó cũng khó vì nó tước mất “quyền lực” của một số người.

Tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng để thành lập các cơ sở đào tạo nghề (hiện nay khó hơn thành lập doanh nghiệp rất nhiều vì phải xin phép và thủ tục rất phức tạp), thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, khu vực tư nhân đầu tư vào lĩnh vực này; để cho chúng tự chủ, cạnh tranh nhau và hợp tác với các doanh nghiệp; có các chính sách hỗ trợ chúng, có các quy định về tính liên thông hay các cơ chế giám sát chất lượng (do họ và các doanh nghiệp thực hiện chứ không phải Nhà nước đứng ra làm). Đấy là cách cải thiện chất lượng lao động hay nhất mà Nhà nước có thể làm và như thế Nhà nước vừa đỡ ôm đồm vừa có thể giảm công việc không phải của mình. Cách làm ấy – Nhà nước chỉ làm việc của Nhà nước, tất cả những việc Nhà nước đang làm thay xã hội (cơ sở đào tạo, doanh nghiệp) Nhà nước nên từ bỏ – là bước đầu tiên để tổ chức lại bộ máy Nhà nước (cải cách hành chính), nâng lương công chức, v.v., như các dự án tinh giản bộ máy nhà nước đang được thảo luận.

Để góp phần giải quyết nạn “thừa thầy, thiếu thợ” nên xóa bỏ các quy định về Nhà nước đưa ra các chương trình khung trong đào tạo nghề (trung cấp, cao đẳng) và đào tạo đại học.

Nguyễn Quang A

Share This Post

Related Articles